Những kỵ binh nguy hiểm nhất La mã

Được coi là những dũng sĩ mạnh nhất thời cổ đại và là nỗi sợ hãi của  các chiến binh la mã từ “Cataphract” được người La Mã và Hy Lạp sử dụng để mô tả những kỵ binh siêu nặng trên chiến trường. Vậy nặng và nhẹ là sao

Nặng nhẹ là để chỉ các vũ khí trang bị trên người chiến binh như mũ, giá , khiên , kiếm, … những chiến binh Cataphract thường mang nặng hơn những chiến binh thông thường.  Khái niềm chiến binh nặng đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 6. Kỵ binh nặng dần thay thế chiến xa (chariot) và trở thành phần tử chủ lực trong quân đội của người Assyrian, người Achaemenid và Macedonia của Alexander Đại đế.

Từ đó các khải niện về kỵ binh nặng dần trở nên thông dụng thời bấy giờ

Nếu như các kỵ binh Hetairoi (kỵ binh dưới thời Alexander Đại đế) thường được trang bị áo giáp ngực thì Cataphract lại vận giáp kín người bao gồm: mặt nạ, bọc tay, bọc chân và toàn bộ những phần cơ thể còn lại. Chưa kể có vậy, ngay cả những chú ngựa cũng được bọc trong những bộ giáp dày và nặng nề.

Hoàng đế La Mã Aurelian khi lần đầu nhìn thấy các kỵ binh của Đế chế Palmyrene trong trận Emesa năm 270 đã phải thốt lên: “Họ quá tự tin vào những bộ giáp nhưng quả thực chúng thật sự chắc chắn và an toàn”. Nhiều tài liệu cho biết, dưới những lớp giáp sắt, các kỵ binh còn mặc thêm giáp làm bằng da thú hoặc hợp kim đồng.

Làm sao một con người cũng như một chú ngựa có thể mang trên mình một khối lượng giáp khổng lồ như vậy mà không thấy mệt? Dĩ nhiên là họ sẽ rất nhanh mệt nhưng theo sử gia Heliodorus, các kỵ binh Cataphract đều được tuyển chọn kỹ càng – đó phải là những người có ngoại hình cùng kích thước cơ thể vượt trội.

Cả những chiến mã cũng phải trải qua vòng tuyển chọn gắt gao. Sử sách ghi lại rằng, chỉ có giống ngựa Nisean là thích hợp để làm vật cưỡi cho các kỵ binh Cataphract.

Đây là giống ngựa có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Nisean (Iran ngày nay), sở hữu kích thước và sức mạnh vượt xa các giống ngựa bình thường.

Người La Mã từng vô cùng ấn tượng trước sức khỏe phi thường và độ lì lợm của giống ngựa này khi chạm trán với Đế quốc Parthia. Người ta tin rằng Bucephalus – con vật cưỡi huyền thoại của Alexander Đại đế chính là một chú ngựa Nisean.

Giống ngựa Nisean thời đó quý và quan trọng đến mức thường xuyên trở thành đề tài chính gây ra các cuộc chiến tranh giữa nhiều quốc gia quanh khu vực Iran ngày nay.

Không chỉ sở hữu bộ giáp sắt thể hiện sự mạnh mẽ, các Cataphract còn là bậc thầy trong việc sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau, bao gồm cung tên, chùy, giáo, gươm… Tuy nhiên vũ khí thông dụng nhất của họ là một ngọn thương dài 3,6-4m có tên gọi là Kontos.

Các Cataphract thời kỳ đầu không sử dụng khiên vì lý do họ phải cầm Kontos bằng 2 tay. Với tốc độ của ngựa cùng trọng lượng siêu “khủng”, các Cataphract lao tới đối phương xuyên thủng hàng phòng ngự bằng trường thương Kontos.

Theo sử gia Plutarch, ngọn thương của các Cataphract có thể đâm xuyên 2 người mặc giáp cùng lúc. Đó quả là một cỗ xe ủi đúng nghĩa trên chiến trường cổ đại.

Tuy nhiên không có gì là hoàn hảo và các Cataphract cũng vậy. Bên cạnh “chi phí bảo dưỡng” cực đắt cho bộ giáp, sự nặng nề của chúng khiến cho việc xoay trở vô cùng khó khăn. Do vậy, kỵ binh Cataphract chậm chạp hơn nhiều lần so với các kỵ binh khác.

Đặc biệt là vào thời cổ đại, khi bàn đạp trên ngựa chưa được phát minh, việc điều khiển được những chú ngựa Nisean siêu khỏe càng trở nên khó khăn hơn.

Sử sách không ghi nhiều về những thất bại của Cataphract nhưng chúng ta cũng có thể hình dung ra, nếu bị ngã ngựa thì các Cataphract chưa chắc đã đứng dậy nổi. Sử gia Heliodorus mô tả Cataphract không ngựa giống như những thanh gỗ nằm dưới đất vậy.

Trở thành nỗi khiếp sợ của người La Mã

Được trang bị tới “tận chân răng” như vậy nhưng trong thời kỳ đầu, những ghi chép về Cataphract cho thấy họ toàn… thua chứ ít khi nào thắng.

Bởi một lẽ chưa một danh tướng nào biết sử dụng Cataphract cho đến tận trận Carrhae giữa Cộng hòa La Mã và Đế chế Parthia.

Trước trận này, Cataphract xuất hiện lần đầu trong trận Panion năm 200TCN (Cataphract của đế chế Seleucid đối đầu với vương quốc Ptolemaic) và trong trận Magnesia năm 188 TCN khi đế chế Seleucid chiến tranh với Cộng hòa La Mã.

Tại Magnesia, Vua Seleucid, Antiochus the Great đã mang tới 3.000 Cataphract cùng 1.000 kỵ binh cận vệ Agema vào chiến trường.

Tuy nhiên Seleucid thảm bại trong trận này mặc dù đông đảo hơn. Ở cánh trái, Cataphract thua tan nát trước các kỵ binh được trang bị nhẹ hơn nhiều của người La Mã do có bộ binh hỗ trợ.

Ở cánh phải, Cataphract thành công khi đẩy lùi được quân La Mã, tuy nhiên khi cánh trái và trung quân đã vỡ nát thì thành công này không được ai nhớ đến.

Phải đến năm 53 TCN, người ta mới biết đến sức mạnh kinh hồn của các Cataphract. Khoảng 1.000 Cataphract và 9.000 xạ kỵ của Đế chế Parthia dưới sự chỉ huy thiên tài của Surena đánh tan 40.000 quân La Mã của Marcus Linus Crassus (một trong tam hùng La Mã thời đó, bên cạnh Pompey Magnus và Gaius Julius Caesar) mà chỉ thiệt hại có vỏn vẹn hơn… 100 người.

Crassus đã từng gặp Cataphract, đã từng gặp xạ kỵ Parthia nhưng đều chiến thắng dễ dàng mà không phải đổ một giọt mồ hôi. Vì thế chẳng mấy ai tin tưởng lượng quân ít ỏi của Surena có thể ngăn bước tiến của La Mã.

Quay trở lại trận Carrhae, trong trận này, Surena đã sử dụng chiến thuật luân phiên vô cùng sáng tạo: 9.000 xạ kỵ chỉ chạy vòng quanh và bắn tên vào quân La Mã, bắt buộc bộ binh La Mã phải lui về xếp đội hình mai rùa (testudo) để chống lại.

Và khi họ đã xếp thành công testudo thì các Cataphract mới vào cuộc. Sự nặng nề của những cỗ xe tăng người – ngựa và sức mạnh kinh hồn của ngọn trường thương Kontos đã phát huy tác dụng. Người La Mã khi thu về đội hình testudo thì không thể làm gì khi những cỗ xe ủi Parthia này lao vào người.

Vì thế, từng người từng người trong số các chiến binh La Mã trở thành mồi ngon cho Kontos. Những người sống sót sau này khi kể lại vẫn còn run rẩy nhớ lại tiếng rầm rập của vó ngựa Cataphract lúc đến gần. Họ không biết họ sẽ chết lúc nào…

Khi bộ binh La Mã trở lại đội hình bình thường để chặn bước tiến của các Cataphract thì đó cũng là lúc Surena phất cờ báo hiệu rút lui, để 9.000 xạ kỵ tiếp tục rót mưa tên vào quân La Mã..

Kết quả đã rõ, những ngọn giáo, lưỡi gươm của các kỵ binh Gaul không thể đả thương Cataphract. Hoàn toàn vô vọng trong cả tấn công lẫn phòng thủ, quân đội La Mã của Crassus mất gần hết, thiệt mạng tới 20.000 người, bị bắt sống 10.000 và chỉ còn 10.000 quân chạy thoát.

Lúc này người ta mới nhận ra người chỉ huy có tác dụng quan trọng như thế nào. Surena được tôn vinh như anh hùng và đó cũng chính là nguyên nhân khiến ông bị xử tử vì nghi ngờ phản bội ngay sau đó.

Vào năm 39 Hoàng tử Pacorus mang quân tấn công người La Mã và lần này, lực lượng Cataphract còn đông hơn trước. Tuy nhiên chiến dịch đã trở thành một thảm họa khi La Mã chiếm được cao điểm và Pacorus ra lệnh cho Cataphract phải tấn công lên… trên đồi.

Tham khảo thêm bài viết nguồn  :

http://khoahoc.tv/sieu-chien-binh-giap-sat-noi-kinh-hoang-thoi-la-ma-co-dai-56022

 

Giới Thiệu

Bài này đã được đăng trong Chưa được phân loại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *